<p><strong>VĂN BẢN 2</strong></p><p><strong>THÁNH GIÓNG</strong></p><p>Tục truyền, đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Phù Đổng, có hai vợ chồng ông lão nhà nghèo, chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một chút con để tuổi già đỡ hiu quạnh.</p><p>Một hôm, bà ra đồng, trông thấy một vết chân to hơn vết chân người thường. Thấy hay hay, bà đặt bàn chân mình vào, ướm thử. Không ngờ về nhà bà thụ thai, rồi sau mười hai tháng thai nghén, bà sinh ra một em bé, mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng lấy làm mừng lắm. Nhưng kì lạ thay, chú bé đã ba tuổi mà chẳng biết cười, biết nói gì cả, và cũng không nhích đi được bước nào, đặt đâu nằm đấy. [...]</p><p>Bấy giờ, có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc rất mạnh, nhà vua lo sợ, bèn truyền sứ giả đi khắp nơi, tìm người tài giỏi cứu nước.</p><p>Chú bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói với mẹ:</p><p>– Mẹ ra mời sứ giả vào đây, con xin thưa chuyện.</p><p>Sứ giả vào. Chú bé bảo:</p><p>– Ông về tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa bằng sắt, làm cho ta một bộ áo giáp bằng sắt, và rèn cho ta một cái roi cũng bằng sắt, ta nguyện phá tan lũ giặc này.</p><p>Sứ giả vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu với vua. Vua lập tức sai thợ đêm ngày phải làm cho đủ những đồ vật như lời chú bé dặn.</p><p>Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no. Áo vừa may xong đã chật ních. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con hàng xóm. Bà con hàng xóm cũng vui lòng góp gạo thóc để nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú bé giết giặc, cứu nước.</p><p>Giặc đã đến chân núi Trâu Sơn. Thế rất nguy, ai nấy đều hoảng hốt. Vừa lúc đó thì sứ giả đem ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái, bỗng biến thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lại, vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí vang lên mấy tiếng. Tráng sĩ mặc áo giáp vào, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, phi thẳng đến chỗ quân giặc đóng. Tráng sĩ xông vào trận đánh giết; giặc chết như ngả rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ.</p><p>Đám tàn quân giẫm đạp nhau mà trốn thoát. Tráng sĩ đuổi đến núi Ninh Sóc. Nhưng đến đấy, không biết vì sao, Người một mình cưỡi ngựa lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời, biến mất.</p><p>Vua nhớ công ơn, không biết lấy gì đền đáp, bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, và lập miếu thờ ngay ở quê nhà.</p><p>Hiện nay, vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng Tư, làng mở hội to lắm. Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy, nên mới ngả màu vàng óng như thế. Còn những vết chân ngựa nay thành những ao hồ liên tiếp. Và khi ngựa thét ra lửa làm cháy mất cả một làng. Làng đó nay gọi là làng Cháy.</p><p><i>(Theo Lê Trí Viễn, Văn tuyển (Lớp 5 tập I), Bộ Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1957, tr. 18 – 19.)</i></p><p><strong>1. Nội dung</strong></p><p>- Xuất thân kì lạ của Thánh Gióng</p><p>+ Mẹ Gióng thụ thai kì lạ: Khi ra đồng, bà ướm chân mình vào một vết chân rất to. Sau đó bà mang thai và sinh ra Gióng.</p><p>→ Chi tiết này cho thấy Gióng có nguồn gốc khác thường, báo hiệu sự xuất hiện của một người anh hùng phi thường</p><p>+ Sự sinh nở thần kì: Bà mang thai mười hai tháng mới sinh Gióng. Khi sinh ra, Gióng khôi ngô, nhưng đến ba tuổi vẫn không biết nói, không biết cười, không biết đi, “đặt đâu nằm đấy”. </p><p>→ Những chi tiết này tạo nên sự kì lạ, khác thường cho nhân vật ngay khi mới xuất hiện, đồng thời chuẩn bị cho sự trưởng thành và hành động phi thường của Thánh Gióng sau này.</p><p>- Sự trưởng thành thần kì của Gióng</p><p>+ Ba năm đầu đời: Gióng không nói, không biết đi, chỉ đặt đâu nằm đấy</p><p>→ Gióng dường như chưa bộc lộ bất cứ khả năng đặc biệt nào</p><p>+ Tiếng nói đầu tiên: Khi nghe tin giặc Ân xâm phạm bờ cõi, Gióng bỗng cất tiếng nói nói đầu, nhưng không phải là nói bình thường mà là lời yêu cầu mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc</p><p>→ Ý nghĩa của chi tiết:</p><p> Gióng chỉ cất tiếng nói khi đất nước lâm nguy</p><p> Điều Gióng quan tâm đầu tiên không phải là bản thân mà là việc cứu nước</p><p> Qua đó thể hiện lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với đất nước của người anh hùng</p><p><br> </p><p>+ Thể chất phát triển phi thường: Sau khi gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa may xong đã chật</p><p>→ Sự lớn nhanh của Gióng thể hiện sức mạnh của người anh hùng, đồng thời tượng trưng cho sức mạnh của cả dân tộc khi đất nước đứng trước nguy cơ xâm lược</p><ul><li> Chi tiết vươn vai: Sau khi gặp sứ giả, sứ giả mang ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt đến , Gióng vươn vai một cái và biến tráng sĩ oai phong lẫm liệt</li></ul><p>→ Đây chính là bước chuyển biến quan trọng: từ một cậu bé nhỏ tuổi trở thành người anh hùng có sức mạnh phi thường, sẵn sàng ra trận cứu nước</p><ul><li> Sức mạnh của Gióng không chỉ đến từ bản thân: Gióng cần có ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt do nhà vua và nhân dân chuẩn bị.</li></ul><p>→ Điều này cho thấy khi đất nước có giặc, sức mạnh của người anh hùng được tạo nên từ sự đóng góp và đồng lòng của cả cộng đồng</p><p><br> </p><p>+ Chiến công vĩ đại của Thánh Gióng</p><ul><li>Gióng một mình một ngựa, mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt xông vào đánh trận, khiến giặc chết như ngả rạ</li></ul><p>→ Thể hiện sức mạnh phi thường, oai phong và lòng dũng cảm của người anh hùng</p><ul><li>Khi roi sắt gãy, Thánh Gióng không hề lùi bước mà nhổ những cụm tre bên đường để tiếp tục đánh giặc</li></ul><p>→ Chi tiết này cho thấy:</p><ul><li>Thánh Gióng có ý chiến chiến đấu rất mạnh, không chịu khuất phục trước khó khăn</li><li>Khi vũ khí không còn, Gióng vẫn tiếp tục chiến đấu bằng những gì có sẵn</li><li>Tre là hình ảnh rất quen thuộc của làng quê Việt Nam, vì vậy chi tiết Gióng dùng tre đánh giặc còn thể hiện sức mạnh của nhân dân và quê hương Việt Nam trong cuộc chiến chống ngoại xâm</li></ul><p>→ Chiến thắng của Thánh Gióng thể hiện sức mạnh và ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam</p><p>+ Sự hoá thân thần linh thiêng của Thánh Gióng</p><ul><li>Sau khi đánh tan giặc, Gióng đuổi giặc đến chân núi Ninh Sóc, rồi một mình cưỡi ngựa lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáo và cùng ngựa bay lên trời</li></ul><p>→ Gióng không trở về nhận phần thưởng hay sống cuộc đời bình thường mà hóa thân vào cõi bất tử.</p><ul><li>Gióng được vua phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ để ghi nhớ công lao</li></ul><p>→ Thể hiện sự tôn kính, biết ơn và ngưỡng mộ của nhân dân đối với người anh hùng có công cứu nước</p><ul><li>Hình bóng chiến công của Gióng còn được lưu giữ trong những hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên và địa danh</li></ul><p>→ Qua đó, nhân dân đã bất tử hoá hình tượng người anh hùng, khiến chiến công của Gióng sống mãi trong đời sống văn hoá dân tộc</p><p>→ Thánh Gióng trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm và sức mạnh của dân tộc Việt Nam.</p><p><br><br><br><br><br><br><br> </p>
Lecture Type
Bài học
code
VAN061102
Created by
49bfbb4e-3d3a-4850-968e-cab6eb754e13