<p><strong>ĐỀ ÔN THI SỐ </strong></p><p><strong>PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)</strong></p><p>Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:</p><p>Hàng xóm này cụ thể là hàng xóm ở đối diện. Tầng có tất cả chín nhà, quây xung quanh cái cầu thang máy. Thực ra thì không có nhà nào thực là đối diện nhà nào cả, nhưng nhìn chênh chếch vẫn có thể thấy được cửa nhà nhau. Nhà này, là hàng xóm nhìn chênh chếch có thể thấy được cửa nhà ông. Cũng tức là, nhà ông, nhìn chênh chếch thấy được cửa nhà ấy.</p><p>Thường thì các nhà cửa đóng then cài cẩn mật… Mỗi lần ông nhìn chênh chếch sang, đều thấy mấy đôi dép xếp thẳng hàng. Bốn đôi người lớn và hai đôi trẻ con vào ngày nghỉ. Hai đôi người lớn vào giờ hành chính ngày trong tuần. Lại đủ bốn đôi người lớn và hai đôi trẻ con sau sáu giờ chiều từ thứ hai đến thứ sáu. Chỉ có nhà ấy là xếp dép vào khoảng năm mươi phân giữa hai lớp cửa. Có khi là dép, có khi là giày. Nhìn cỡ thì biết có một bé trai và một bé gái, đâu đó tầm mươi mười ba tuổi. Nhưng ông cũng chỉ biết đến thế. Ông sống ở đây một năm trời rồi mà chưa nhìn thấy nhà hàng xóm ấy bao giờ. Những hàng xóm khác có thi thoảng gặp, cười cười “bác ạ” rồi ai khép cửa nhà nấy. Riêng nhà có sáu đôi dép thì chưa bao giờ thấy mở cửa, chỉ có những đôi dép lần lượt đảo chỗ cho nhau.</p><p>[…] Cho đến một ngày, khi ông đã thôi ý định ngồi ngóng ra cửa chỉ để chờ gặp hàng xóm, thì bỗng dưng lại gặp bà… Ông đã chờ đợi bao nhiêu lần để gặp được hàng xóm của mình, đã mường tượng ra cảnh cả gia đình họ ríu rít dắt nhau vào thang máy thế nào. Đâu ngờ một ngày gặp được hàng xóm, lại là một người đàn bà bé nhỏ vừa rấm rứt khóc xong... Sự tò mò về sáu đôi dép lớn một, thì tò mò về đôi mắt ướt nhẹp đỏ hoe của bà hàng xóm phải lớn gấp mười. Ông cứ nghĩ mãi, ở cái tuổi này còn gì có thể làm cho người ta khóc? Trừ sự tủi thân. Hoặc mất mát. Nhưng sau hôm ấy sáu đôi dép vẫn xếp ngay ngắn vào đúng khoảng thời gian như mọi khi. Không có gì xáo trộn. Nhìn từ ngoài cửa, nghe từ hành lang, thì căn hộ ấy vẫn sống cùng một nhịp cứ như bà lão chưa bao giờ khóc cả.</p><p>Đến một ngày, nghĩ mãi vẫn chẳng có cớ gì, nhưng ông vẫn sang ấn chuông nhà hàng xóm. Là cứ ấn thế chứ không mong có ai mở cửa cho mình, mà có mở ông cũng chẳng biết phải nói câu gì. Thế mà rồi cửa lại mở. Bà lão he hé cửa chào ông. Ông, bất ngờ quá, không biết nói gì, tự dưng lại xin bà một phích nước.</p><p>- Phiền bác quá, ấm đun nước nhà tôi bỗng dưng lại hỏng, các cháu thì đi làm hết rồi, thèm ấm trà mà không pha được... Thế mà bà lão mở hẳn cửa ra. Mời ông vào. Ông được mời trà ngay ở căn hộ bên ấy, không cần xin phích nước về nhà mình nữa.</p><p>[…] Bà mời ông dùng trà, hỏi han những câu rất cơ bản như khi người ta đi hết một hàng cau, qua cái cổng duối, bước vào sân là có thể hỏi nhau. Bà hỏi ra bác cũng ở đây, bác ở đây lâu chưa, các cháu công tác thế nào...</p><p>Câu chuyện bắt đầu như thế. Mắt bà hôm nay không đỏ. Thế nên ông không biết phải bắt đầu cái phần chính yếu của sự tò mò như thế nào. Uống hết cả ấm trà (thực ra lâu lắm rồi ông không uống, thế này khéo đủ để mất ngủ nguyên một tuần), câu chuyện vẫn do ông kể. Rằng tôi sống bên nhà ấy số ấy, các cháu công tác ổn, các cháu có một cháu gái rồi, à mà cháu gái tôi chắc bằng cháu gái bà, tự dưng ông buột miệng thế. Xong im lặng. Nào ông đã gặp cháu gái bà bao giờ. Bà cũng im. Lặng. Ông không biết nói sao đành thú thật mình đã nhìn rất lâu, rất nhiều lần vào sáu đôi dép, trong đó có một đôi xỏ ngón nơ hồng, mà ông đồ rằng chắc của cháu gái bà.</p><p>Bà vẫn không nói gì. Ông thấy cứ lặng như thế này, ở tầng mười bốn thậm chí không có cả muỗi bay để nghe tiếng vo ve, thật là nghẹt thở quá. Rốt cục ông đứng dậy, nói cố một câu trước khi về:</p><p>Thực ra tôi ở đây có một mình thôi. Các cháu cuối tuần mới về.</p><p>Bà một lúc mới cất lời, chẳng ngước lên nhìn ông: Thực ra tôi cũng ở đây có một mình thôi. Tôi thậm chí chẳng có các cháu để cuối tuần về. Sáu đôi dép tôi tự mua tự xếp đấy. Để tự thấy rằng mình ấm áp. Ông đứng lên rồi lại ngồi xuống. Nhìn bà. Kinh ngạc. Bà dừng một hồi rồi tiếp:</p><p>Trước đây tôi còn có con chó, sống cùng tôi từ mười bốn năm nay, từ trước cả khi chuyển về đây ở. Về đây biết là người ta cấm nuôi động vật, nhưng tôi vẫn nuôi giấu. Tôi nuôi nó từ thuở lọt lòng, nó coi tôi như mẹ, tôi coi nó như con, không có nó tôi chẳng có ai.</p><p>Nhưng đến nó cũng ra đi rồi. Tôi đành đem chôn. Có mỗi tôi khóc cho nó. Tôi cũng chỉ có mỗi nó để khóc mà thôi. Bà nói một hơi dài mắt từ từ ậng nước. Ông chuyển từ kinh ngạc sang bối rối. Ông đã sang ấn chuông vì muốn nhìn sâu hơn một chút vào cửa căn hộ này. Trước cửa có xếp sáu đôi dép, bốn đôi người lớn và hai đôi trẻ con.</p><p>Ông xoay xoay cốc trà đã cạn, không biết làm gì với bà lão mắt đã lại đỏ hoe, vết đỏ lan ra đến tận đầu mũi. Xoay cốc đủ hai mươi chín vòng thì ông nói, rồi dứt khoát đứng lên đi về trước khi vệt đỏ ấy lan sang cả mắt rồi tràn xuống đầu mũi ông mất.</p><p>Xin phép bác, chủ nhật cho ông cháu tôi sang đây xin phích nước nóng.</p><p>Chú thích : Chu Thùy Anh sinh năm 1985 tại Hà Nội, được xem là cây bút trẻ đầy nội lực của văn học đương đại. Tác phẩm đã xuất bản: Vé một chiều (2015), tập truyện ngắn Xanh (2016). Văn phong Chu Thùy Anh gọn gàng, tinh tế, đậm chất triết lý, không làm dáng, không quá lệ thuộc vào những kỹ xảo cuốn hút bạn đọc, cốt truyện rất đơn giản, tình tiết chậm, thường được triển khai từ những tình huống nhỏ trong cuộc sống. Truyện ngắn Hàng xóm đăng trên báo Văn nghệ số Tết Nhâm Ngọ 2012, được tặng thưởng giải ba cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ (2011-2013).</p><p>Câu 1 (0,5 điểm): Xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật của đoạn trích trên.</p><p>Câu 2 (0,5 điểm): Chi tiết nào ở trước cửa nhà hàng xóm khiến nhân vật “ông” đặc biệt chú ý và tò mò quan sát suốt một năm trời?</p><p>Câu 3 (0,5 điểm): Nguyên nhân thực sự khiến bà hàng xóm phải “tự mua tự xếp” sáu đôi dép trước cửa là gì? Chi tiết này gợi cho em suy nghĩ gì về hoàn cảnh của bà?</p><p>Câu 4 (0,5 điểm): Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật “ông” trong đoạn kết: từ hành động “xoay cốc đủ hai mươi chín vòng” đến câu nói “Xin phép bác, chủ nhật cho ông cháu tôi sang đây xin phích nước nóng”.</p><p>Câu 5 (1,0 điểm): Từ câu chuyện trong văn bản, em hãy rút ra thông điệp ý nghĩa nhất về cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.</p><p>PHẦN II. VIẾT (7,0 điểm)</p><p>Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về câu nói “nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực là nơi vắng bóng tình yêu thương” </p><p>Câu 2 (5,0 điểm). Viết bài văn nghị luận phân tích truyện ngắn “Hàng xóm” của Chu Thùy Anh ở phần Đọc hiểu.</p>
Lecture Type
Bài học
code
VĂN 121106
Created by
e1887144-afcb-416c-a6aa-c48acdb0e11e